Chuyên đề ngữ văn 6

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hồ Thị Hà
Ngày gửi: 10h:01' 28-10-2014
Dung lượng: 71.5 KB
Số lượt tải: 202
Nguồn:
Người gửi: Hồ Thị Hà
Ngày gửi: 10h:01' 28-10-2014
Dung lượng: 71.5 KB
Số lượt tải: 202
Số lượt thích:
0 người
HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP HỌC
NGỮ VĂN 6
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Trước hết cần phải hiểu rõ vị trí, tầm quan trọng của môn học
+ Môn Ngữ văn là một môn khoa học thuộc nhóm KHXH có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của chương trình cơ sở, góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho học sinh ra đời hoặc tiếp tục học lên ở bậc học cao hơn. Đó là những con người có ý thức tụ tu dưỡng, biết thương yêu quý trọng gia đình; bạn bè, có lòng yêu nước yêu CNXH, biết hướng tới những tư tưởng tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác đó là những người biết rèn luyện có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ cái giá trị chân – thiện – mỹ trong nghệ thuật; trước hết là trong văn hóa, năng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp. Đó cũng là những con người ham muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp và xây dựng bảo vệ Tổ quốc.
Muốn Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm công cụ. Vị trí đó còn nói lên mối quan hệ giữa Ngữ văn và các môn khác. Học tốt môn Ngữ văn sẽ có tác dụng tích cực đến kết quả học tập các môn khác.
2. Điều thứ hai các em cần biết rõ đó là:
Về tên gọi cấu tạo sách giáo khoa Ngữ văn 6
+ Về tên gọi:
- Ở bậc Tiểu học gọi là môn Tiếng Việt
- Trên 20 năm qua ở bậc THCS môn học này gồm 3 phân môn: Văn học, Tiếng việt, Tập làm văn.
- Đến năm 2002 chúng ta đã có bộ sách giáo khoa Ngữ văn 6 đầu tiên được biên soạn theo hướng cải tiến chung của Bộ GD-ĐT đã sát nhập 3 phần lâu nay vẫn thường được gọi là 3 phân môn (Văn – Tiếng việt – Tập làm văn).
Vào một chỉnh thể là Ngữ văn và do đó từ chỗ có 3 bộ sách Văn học – Tiếng việt – Tập làm văn nay chỉ có một bộ sách duy nhất là Ngữ văn.
Việc thay đổi trên gọi và cấu tạo ảnh hưởng không nhỏ đến cấu trúc sách giáo khoa, tổ chức bài học cũng như nhiều mặt cả nội dung và phương pháp học tập của học sinh và việc giảng dạy của giáo viên.
+ Cấu tạo: Mỗi bài học, đơn vị của SGK nói chung đều gồm đủ 3 phần: Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn.
Mục kết quả cần đạt đặt ở đầu nêu lên mục tiêu mà học sinh cần đạt tới ở mỗi bài nói chung gồm đủ 3 phần ứng với 3 phân môn. Từ phần Văn bản và chú thich dùng cho cả 3 phần, các mục còn lại đều sắp xếp theo trình tự Văn, Tiếng việt, Tập làm văn.
B. PHƯƠNG PHÁP HỌC NGỮ VĂN 6
I. SỬ DỤNG SÁCH NHƯ THẾ NÀO ?
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 6:
Trong tay các em có tập SGK Ngữ văn 6 do Bộ GD&ĐT ban hành năm 2002. Đây là một bộ sách rất thiết thực và tiện dùng gồm 35 bài; tập 1: 17 bài; tập 2: 18 bài.
Mỗi bài gồm 4 tiết học ứng với 3 phần. Từng tiết được bố cục theo trình tự tên văn bản hoặc tên bài học. Tên thể loại hoặc tên tác giả, tên người dịch sách giáo khoa là công cụ để thầy cô, học sinh tổ chức hoạt động dạy và học trên lớp cũng như ở nhà. Bởi vậy điều quyết định kết quả học tập là:
a. Sự quán triệt mục tiêu, yêu cầu của môn học, của từng bài học cụ thể cũng như quyết tâm thực hiện các yêu cầu đó của học sinh. Kết quả cần đạt của mỗi bài học thường có 3 phần.
- Về kiến thức tư tưởng
- Về khả năng và nội dung tích hợp
- Rèn luyện các kỹ năng cơ bản
b. Cần chú ý các bài tổng kết, ôn tập riêng phần văn cần đọc kỹ những chú thích dấu x nói về đặc trưng các thể loại văn học. Các chú thích Hán việt sẽ tập hợp lại ở cuốn sách giáo khoa tập 2. Các bài đọc thêm có tính chất tư liệu nhằm giúp hiểu rõ thêm một vài phương diện của Văn bản chính nắm vững hơn các vấn đề lý thuyết hay có thêm chất liệu để làm các bài tập tốt hơn.
c. Đọc kỹ - ghi nhớ: Học thuộc các phần đóng khung bởi đó là những điều cốt lõi trong mỗi bài dạy của giáo viên – học sinh.
d. Xem tranh minh họa, suy ngẫm kỹ về nội dung ý nghĩa của các bức tranh. Đó cũng là một kênh (kênh hình) giúp sáng
NGỮ VĂN 6
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Trước hết cần phải hiểu rõ vị trí, tầm quan trọng của môn học
+ Môn Ngữ văn là một môn khoa học thuộc nhóm KHXH có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của chương trình cơ sở, góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho học sinh ra đời hoặc tiếp tục học lên ở bậc học cao hơn. Đó là những con người có ý thức tụ tu dưỡng, biết thương yêu quý trọng gia đình; bạn bè, có lòng yêu nước yêu CNXH, biết hướng tới những tư tưởng tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác đó là những người biết rèn luyện có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ cái giá trị chân – thiện – mỹ trong nghệ thuật; trước hết là trong văn hóa, năng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp. Đó cũng là những con người ham muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp và xây dựng bảo vệ Tổ quốc.
Muốn Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm công cụ. Vị trí đó còn nói lên mối quan hệ giữa Ngữ văn và các môn khác. Học tốt môn Ngữ văn sẽ có tác dụng tích cực đến kết quả học tập các môn khác.
2. Điều thứ hai các em cần biết rõ đó là:
Về tên gọi cấu tạo sách giáo khoa Ngữ văn 6
+ Về tên gọi:
- Ở bậc Tiểu học gọi là môn Tiếng Việt
- Trên 20 năm qua ở bậc THCS môn học này gồm 3 phân môn: Văn học, Tiếng việt, Tập làm văn.
- Đến năm 2002 chúng ta đã có bộ sách giáo khoa Ngữ văn 6 đầu tiên được biên soạn theo hướng cải tiến chung của Bộ GD-ĐT đã sát nhập 3 phần lâu nay vẫn thường được gọi là 3 phân môn (Văn – Tiếng việt – Tập làm văn).
Vào một chỉnh thể là Ngữ văn và do đó từ chỗ có 3 bộ sách Văn học – Tiếng việt – Tập làm văn nay chỉ có một bộ sách duy nhất là Ngữ văn.
Việc thay đổi trên gọi và cấu tạo ảnh hưởng không nhỏ đến cấu trúc sách giáo khoa, tổ chức bài học cũng như nhiều mặt cả nội dung và phương pháp học tập của học sinh và việc giảng dạy của giáo viên.
+ Cấu tạo: Mỗi bài học, đơn vị của SGK nói chung đều gồm đủ 3 phần: Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn.
Mục kết quả cần đạt đặt ở đầu nêu lên mục tiêu mà học sinh cần đạt tới ở mỗi bài nói chung gồm đủ 3 phần ứng với 3 phân môn. Từ phần Văn bản và chú thich dùng cho cả 3 phần, các mục còn lại đều sắp xếp theo trình tự Văn, Tiếng việt, Tập làm văn.
B. PHƯƠNG PHÁP HỌC NGỮ VĂN 6
I. SỬ DỤNG SÁCH NHƯ THẾ NÀO ?
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 6:
Trong tay các em có tập SGK Ngữ văn 6 do Bộ GD&ĐT ban hành năm 2002. Đây là một bộ sách rất thiết thực và tiện dùng gồm 35 bài; tập 1: 17 bài; tập 2: 18 bài.
Mỗi bài gồm 4 tiết học ứng với 3 phần. Từng tiết được bố cục theo trình tự tên văn bản hoặc tên bài học. Tên thể loại hoặc tên tác giả, tên người dịch sách giáo khoa là công cụ để thầy cô, học sinh tổ chức hoạt động dạy và học trên lớp cũng như ở nhà. Bởi vậy điều quyết định kết quả học tập là:
a. Sự quán triệt mục tiêu, yêu cầu của môn học, của từng bài học cụ thể cũng như quyết tâm thực hiện các yêu cầu đó của học sinh. Kết quả cần đạt của mỗi bài học thường có 3 phần.
- Về kiến thức tư tưởng
- Về khả năng và nội dung tích hợp
- Rèn luyện các kỹ năng cơ bản
b. Cần chú ý các bài tổng kết, ôn tập riêng phần văn cần đọc kỹ những chú thích dấu x nói về đặc trưng các thể loại văn học. Các chú thích Hán việt sẽ tập hợp lại ở cuốn sách giáo khoa tập 2. Các bài đọc thêm có tính chất tư liệu nhằm giúp hiểu rõ thêm một vài phương diện của Văn bản chính nắm vững hơn các vấn đề lý thuyết hay có thêm chất liệu để làm các bài tập tốt hơn.
c. Đọc kỹ - ghi nhớ: Học thuộc các phần đóng khung bởi đó là những điều cốt lõi trong mỗi bài dạy của giáo viên – học sinh.
d. Xem tranh minh họa, suy ngẫm kỹ về nội dung ý nghĩa của các bức tranh. Đó cũng là một kênh (kênh hình) giúp sáng
 











